The Blue Planet

The Blue Planet

Vietnamese 자막 다운로드

시즌 1

릴리스 정보

The Blue Planet - S01E08 - Coasts
다음의 해설 Mashimaro27
Reup sub SiuLong

태그

TS
게시일: 2017-11-02
다운로드: 39
청각 장애인용: No

Vietnamese 자막 미리보기

처음 197줄입니다.

Bờ biển - ranh giới giữa đất liền và biển cả

Đây là nơi ở nhộn nhịp nhất của đại dương

Sự thử thách ở đây là những thay đổi để sống sót

sự thay đổi tuyệt đối

Cape Douglas, phía tây đảo Galapagos

hoàn toàn không có gì bảo vệ trước những trận sóng khổng lồ của Thái Bình Dương

và là 1 trong những bờ biển khác nghiệt nhất trên trái đất

Loài cự đà biển Galapagos

thằn lằn biển duy nhất trên trái đất

Chúng chỉ ăn rong biển, nhưng để ăn được cũng là 1 việc nguy hiểm

Loài cua địa phương có thân hình dẹt đặc biệt

tối thiểu hóa tác động của sóng biển

Còn cự đà thì có bộ càng khổng lồ để bám vào đá

Rong biển đúng là loại thức ăn nhanh

Mất vài giây để đớp đầy mồm

trước khi kẻ khác tới cướp mất

Những con cái chỉ sinh sản trên những tảng đá trần trụi

nhưng những con đực to loán hơn thì lặn sâu xuống nước và kiếm rong

Chúng lặn sâu tới 10m

ở đó, bên dưới những trận sóng hủy diệt

chúng tìm thấy địa bàn tốt nhất

Loài vật máu lạnh, quay trở lại đất liền chỉ sau 10 phút

để sưởi ấm dưới ánh nắng mặt trời

Tìm kiếm thức ăn không phải là thách thức duy nhất của những cư dân bờ biển

Vùng đá này khó có thể là nơi an toàn cho chúng đẻ trứng

Mỗi năm, cự đà biển

có chuyến hành trình ra đảo để tìm nơi thích hợp hơn

Những con cái đẻ trứng ở trong hang

và để lại chúng ở đó rồi ấp

Để làm việc này, chúng cần vùng cát thật mềm

Sâu dưới mép nước, thật dễ dàng để thoát khỏi nguy hiểm

trong những kẽ đá

Ở đây, những con cái có thể bị phát hiện

Diều hâu Galapagos

Thằn lằn sẽ không ngừng lại mà không chiến đấu

Diều hâu ở bờ biển này cả năm, nhưng chúng là ngoại lệ

Phần lớn các loài chim lui tới vùng giáp ranh này

dành phần lớn thời gian ở trong hoặc trên mặt nước

Tuy nhiên, tất cả những loài chim biển phải lên bờ để đẻ trứng

Và, sau nhiều tháng lẻ loi dành cho việc kiếm ăn trên biển

chúng phải thiết lập lại mối quan hệ cộng đồng

Cuộc trình diễn của chim Frêgat

và sự trao đổi vật liệu xây tổ

Vũ điệu của chim hải âu sóng

Nhu cầu đẻ trứng trên vùng đất chắc chắn đã buộc hải âu tới vùng bờ biển

trách nhiệm làm cha mẹ đã được san sẻ

Trong khi con này chăm sóc quả trứng, thì con kia sẽ đi kiếm ăn

Việc sinh sản của chúng kéo theo nhiều loài vật khác

tới vùng bờ biển này mỗi năm vài tuần

Rùa biển đực dành tất cả cuộc đời ở biển

nhưng những con cái, gióng loài chim, phải vào bờ để đẻ trứng

Để làm như vậy, những con rùa xanh sống và kiếm ăn ngoài biển Brazil

bơi 1500 dặm tới hòn đảo nhỏ ở Ascension

nằm ẩn giữa Đại Tây Dương

Làm thế nào mà chúng có thể xác định vị trí chính xác như thế

và tìm thấy tảng đá nhỏ chỉ rộng 7 dặm bí ẩn như thế

nhưng mỗi năm, có tới 5000 con rùa làm được như thế

và sau đó, gần bờ biển Ascension, chúng kết đôi

Hành trình tới và rời Ascension, làm tổ có thể mất tới 6 tháng

Trong suốt thời gian này, chúng không ăn gì cả

Sau khi kết đôi

con cái rời bỏ môi trường tự nhiên và tự kéo mình lên mặt đất

Nó làm việc đó vào ban đêm, đẻ trứng 3 tới 4 lần trong vòng 15 ngày

Sau đó, nó sẽ bơi trở lại biển Brazil

Nó quay lại vùng đảo quen thuộc này trong suốt cuộc đời

Đáng chú ý là tất cả rùa biển đều quay trở lại, mỗi năm

tới nơi sinh sản truyền thống

Đảo cua ở Australia là 1 trong số những nơi đó

Vùng cát nhỏ hình lưỡi liềm dài 2 dặm

nằm cách đỉnh phía bắc Queesland vài dặm

cung cấp nơi làm tổ

cho 1 nửa số rùa biển hiếm hoi nhất này

Rùa lưng thẳng dải trên 1 m

nhưng chúng phải rất thận trọng

có những loại bò sát khổng lồ khác cũng ở đây

những con cá sấu nước mặn

Hàng đêm, những con rùa

vùi những quả trứng dọc theo bờ cát

Sau 9 tuần

mọi việc sắp xảy ra

Những con mắt sáng lên trong bóng tối là của những con diệc đêm

Không biết từ đâu, hàng trăm con chim xuất hiện trên những cồn cát

Những con bồ nông kiên nhẫn chờ đợi

những con cò đi đi lại lại

Từ rất lâu trước đó, chúng quan sát điều mà chúng đang chờ đợi

Bởi vì những con rùa này đẻ trứng quanh năm

những quả trứng mới nở xuất hiện về đêm với những bữa ăn ít dần

Cái mỏ của bồ nông giúp chúng đào được những quả trứng mới nở

trước khi những con diệc xiên chúng lên mặt nước

Sóng vỗ từ cách xa hàng trăm mét

và ít nhất 1/3 số đó không đi hết hành trình

không chỉ có những con chim đón chúng

Cá sấu, cá mập và những con cá đói đang chờ đợi ở vùng nước nông

thực tế chỉ 1% số trứng mới nở sẽ sóng sót để tiếp tục phát triển

Bờ biển khác, lục địa khác và 1 đêm rất đặc biệt

Ở Costa Rica, 1 con rùa tìm thấy cách giảm rủi ro

Khi rùa Ridley tới để đẻ trứng

không phải hàng chục hay hàng trăm, mà là hàng nghìn con tới

trong 6 ngay tiếp theo, khoảng 400,000 con rùa cái sẽ ghe thăm bãi biển này

Vào lúc cao điểm, 5000 con đến và đi mỗi giờ

Bãi biển trở lên đông đúc, chúng dẫm đạp lên nhau

tìm bãi cát trống nơi chúng xây tổ

40 triệu quả trứng được sinh ra trong vài ngày

Bon rùa đảm bảo sao cho sau 6 tuần

khi những quả trứng nở, nó không bị giảm đi

nó như 1 trận lũ!

Trong vài đêm, trên 2 triệu rùa con mới nở

cùng nhau chạy ra biển

Cùng xuất hiện đồng thời

những kẻ săn mồi áp đảo

Phần lớn bọn rùa ra biển an toàn

Rời biển lên bờ khá khó khăn với loài rùa

thậm chí với loài cá còn khó hơn

Mỗi năm, hàng trăm dặm bờ biển Newfoundland

cá ốt vảy nhỏ tự ném mình lên bãi biển

Ít nhất hàng triệu tấn cá loạng choạng lên bờ

thực sự là quà tặng cho đại bàng và mòng biển

Kỳ lạ là mặc dù trông giống cá

nhưng cá ốt vảy nhỏ, cũng giống loài rùa, phải lên khỏi mặt biển để đẻ trứng

Những con đực cố gắng thụ tinh cho những quả trứng

những con cái sẽ gửi chúng vào trong cát

Như rùa Ridley, chúng phải đẻ trứng cùng thời điểm với thủy triều

chỉ sau vài ngày, mọi việc kết thúc

Phần lớn cá ốt vảy nhỏ sẽ chết

nhưng chỉ sau khi chúng để những quả trứng lại trong cát

1 bộ phận cá ốt vảy nhỏ khác đẻ trứng dưới biển

vậy tại sao loài cá ở Newfoundland đẻ trứng trên cạn?

dường như những quả trứng được giấu trong cát sẽ an toàn hơn

và phát triển nhanh hơn so với ở trong môi trường nước biển lạnh lẽo

Nhưng, dù chúng sinh sản ở đâu, thì khối lượng trứng lớn như vậy

vẫn là nguồn thức ăn cho bầy chim biển

khi chúng tập trung để sinh sản

95% số chim biển trên thế giới làm tổ cùng

phần lớn là trê những khu vực riêng

Đây là đảo Funk, cách bờ biển Newfoundland 40 dặm

tảng đá riêng biệt chật cứng bởi những cn chim biển đang sinh sản

Đây là vùng sinh sản cuối cùng của chim anka không biết bay

hiện nay đã bị tuyệt chủng

Ngày nay, nó vẫn là khu vực nhiều chim uria nhất trên thế giới

Trên 1 triệu chim uria chia sẻ hòn đảo này với 250000 con chim ó biển

không thiếu chỗ thích hợp

nên chim biển sinh sản với mật độ dày như vậy

Ở đây, Bắc Đại Tây Dương

bờ biển trống trải mang lại sự lựa chọn thoải mái cho đàn chim

Yếu tố chủ yếu giới hạn khu vực của chim biển

có vẻ là sự sẵn có của thức ăn trong môi trường biển xung quanh

Có rất nhiều những cái miệng đói cần phải ăn

và một nhu cầu lớn cho lũ cá

trong suốt những ngày hè dài, ở những khu vực như Funk

có 1 đàn chim đang mải miết tìm mồi

và sự quay trở lại với vụ thu hoạch no đủ để nuôi đàn con

Chim ó biển đã bay 200 dặm từ lục địa

1 chuyến kiếm tìm đơn lẻ

Chúng không phải là những kẻ kén ăn

không bỏ qua từ cá chình cát cho tới cá trích

Ngoài ra, chim hải âu cổ rụt cũng là thức ăn thường xuyên của chúng

Vì chỉ bay được từng quãng ngắn

they only nest where there is a good supply of food close by. nên chúng chỉ làm tôt ở những nơi gần nguồn thức ăn

1 nơi như biển Okhotsk xa về phía đông nước Nga

Đây là hòn đảo Talan

Suốt mùa đông Bắc cực, nó bị vây quanh bởi băng

Nhưng khi mùa xuân tới, băng tan ra

và chim biển sau một mùa đông băng giá ở miền nam

bắt đầu quay về

vị trí riêng và những vách đá dốc đứng

khiến cho Talan trở thành nơi làm tổ lý tưởng

Chim hải âu cổ rụt tới đầu tiên

Đây là những người anh em họ vùng Thái Bình Dương

của loài hải âu kém thu hút ở Đại Tây Dương

Hải âu có sừng theo ngay sau

có tất cả 14 loài khác nhau quay lại Talan mỗi mùa xuân

trong vài tuần, vách đá yên lặng

như bừng tỉnh bởi tiếng kêu của 4 triệu con chim biển đang độ sinh sản

Đây là 1 thành phố chim đa dạng

Kết hợp lại ở khu vực này

sau khi dành phần lớn thời gian trên biển

mang lại cho lũ chim tinh thần cộng đồng

yếu tố chủ yếu để chúng kết hợp trong quá trình sinh sản

Bằng cách làm tổ và đẻ trứng cùng nhau

chúng cố gắng sao cho hầu hết chim non sẽ rời tổ vào cùng 1 thời điểm

Giống như loài rùa, đây là cách chúng tản ra khỏi sự ảnh hưởng của những kẻ săn mồi

Loại đại bàng lớn nhất thế giới - đại bàng biển Steller

to gấp 3 lần đại bàng vàng

Suốt mùa hè, đại bàng đi săn ở lục địa đông đúc Talan

Bay thẳng đứng, chúng tuần tra khắp đỉnh vách đá

tìm kiếm mòng biển xira

những kẻ lang thang rất xa mặt đá

Con đại bàng khổng lồ lướt nhanh trên không cùng với 1 con chim ưng

Sự hốt hoảng của đám mòng biển xira làm những kẻ tấn công bị bối rối

Nhưng đại bàng không dừng lại

Nó đã bắt được 1 con

1 loại chim biển khác ở Talan

có cách chống lại những kẻ săn mồi rất hiệu quả

nhưng nó sẽ không xuất hiện cho tới khi mặt trời đã lặn được 1 tiếng

Không biết từ đâu, 1 đàn chim biển dày đặc bất ngờ tiến ra ngoài khơi

Chúng dành 1 ngày để đi kiếm ăn xa

nơi băng giá đã tan

More Vietnamese subtitles for The Blue Planet

댓글

No comments yet. Be the first to leave one.

Keep it about this subtitle — sync, quality, typos.500 characters left