أول 200 سطر.
Trở về nhà từ Việt Nam
thì tâm lý cũng gần như bị tổn thương như bản thân cuộc chiến tranh vậy.
Không ai nói về Việt Nam trong nhiều năm.
Chúng tôi từng là bạn của một cặp đôi trẻ
và mãi sau 12 năm, khi hai người vợ đang nói chuyện với nhau
thì biết được rằng chúng tôi từng cùng là lính thủy đánh bộ ở Việt nam.
Chẳng ai nói một lời
Chẳng đề cập đến.
Cả đất nước cũng thế.
Nó thật sự gây chia rẻ.
Nó giống như việc sống trong một gia đình có một người cha nghiện rượu vậy.
"Khẽ nào, chúng ta không nói về chuyện đó"
Đất nước chúng tôi đã làm vậy với Việt Nam
Rất gần đây thôi, tôi nghĩ rằng
những người sinh ra vào thời bùng nổ sinh sản (1940-1962) cuối cùng cũng hỏi rằng
"Chuyện gì đã xảy ra?
Chuyện gì đã xảy ra vậy?"
Bây giờ, những gì chúng tôi cần ở đất nước này
là hàn gắn vết thương và để Việt Nam lại sau lưng.
Sự giết chóc
trong cuộc chiến bi thảm này phải được chấm dứt.
Chiến lược của tướng Westmoreland
đang mang lại hiệu quả.
Kẻ thù đã không thể tiếp cận chiến thắng nữa.
Cho dù các bạn đánh giá thế nào,
chúng tôi vẫn thấy mình tốt hơn những gì chúng tôi từng nghĩ vào lúc này.
Các bạn đã không công tâm
khi nhìn nhận mức độ mà chúng tôi đã can thiệp vào Việt Nam.
Chúng tôi đã tăng cường hỗ trợ
chính phủ và công tác hậu cần.
Chúng tôi không gửi quân đội sang đó.
Các bạn có một chuỗi domino được thiết lập
và các bạn đánh đổ cái đầu tiên
và dĩ nhiên, cái cuối cùng cũng đổ nhào.
Nếu cuộc chiến thành công ở Triều Tiên,
chúng ta có thể mong đợi nó lan rộng ra khắp châu Á và châu Âu
và cả bán cầu này.
Viktor Frankl, người sống sót sau cuộc diệt chủng
ở thế chiến thứ 2, đã viết một quyển sách tên là Đi tìm ý nghĩa của loài người.
Các bạn biết đấy, "Sống là trải nghiệm.
Tồn tại là để tìm kiếm ý nghĩa của sự trải nghiệm đó."
Và đối với chúng tôi, những người phải trải nghiệm vấn đề về Việt Nam,
đó luôn là sứ mệnh tìm kiếm của chúng tôi từ đó đến giờ.
Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam bắt đầu trong bí mật.
30 năm sau đó, nó kết thúc trong thất bại
được cả thế giới chứng kiến.
Nó được bắt đầu bằng lời hứa tốt đẹp của những người tử tế
được tạo ra từ những hiểu lầm tai họa,
sự cả tin của người Mỹ, và những toan tính sai trong thời kỳ Chiến tranh lạnh .
Và cuộc chiến được kéo dài ra vì dường như nó dễ bị làm rối lên
hơn là việc thừa nhận điều đó, nó được gây ra do những quyết định chiến lược,
của 5 đời tổng thống Mỹ,
của cả hai đảng chính trị.
Trước khi chiến tranh kết thúc,
hơn 58,000 lính Mỹ đã chết.
Và cũng ít nhất 250,000 lính Việt Nam Cộng Hòa đã vong trận
trong cuộc chiến.
Tương tự, có trên 1 triệu quân Bắc Việt
và du kích Việt Cộng đã chết.
2 triệu dân thường, miền Bắc & miền Nam,
được cho là đã thiệt mạng
cùng với hơn 10 ngàn người láng giềng khác
ở Lào và Campuchia.
Đối với nhiều người Việt, đó là cuộc nội chiến tàn khốc;
đối với một số khác, đó là cuộc chiến đẫm máu
một thế kỷ để giành độc lập.
Đối với những người Mỹ tham chiến,
và đối với những người đấu tranh phản đối tại quê nhà,
cũng như đối với những người chỉ đơn thuần lướt qua trên bản tin,
chiến tranh Việt Nam là một giai đoạn đau đớn,
một thời kỳ gây chia rẻ nhất kể từ sau cuộc Nội Chiến.
Phía Việt Nam dường như đã nghi ngờ mọi thứ..
từ giá trị của danh dự và lòng dũng cảm;
sự tàn ác và lòng khoan dung;
sự thành thật của chính phủ Hoa Kỳ;
cho đến ý nghĩa của sự yêu nước.
Và những người đã sống qua giai đoạn đó
sẽ chẳng bao giờ có thể xóa cuộc chiến khỏi ký ức mình
chẳng bao giờ ngưng tranh cãi về điều gì đã thực sự xảy ra,
tại sao mọi thứ lại diễn ra theo hướng tồi tệ như vậy, ai là người đáng trách,
và liệu rằng cuộc chiến đấy có đáng hay không.
Người Pháp bắt đầu xâm lược bán đảo Đông Dương bằng một cuộc tấn công
vào người Việt thời phong kiến tại cảng Đà Nẵng năm 1858.
Họ mất 50 năm để thiết lập quyền cai trị trên toàn vùng...
Lào, Campuchia và một dải đất dài trên 1200 dặm mà sau này
được gọi là Việt Nam.
Toàn vùng được cai trị bởi một đại tướng,
có thủ phủ đặt tại Hà Nội.
Người Pháp sống rộng khắp trên các đồn điền,
và những thành phố, như Sài Gòn, biến chúng thành giống nhất có thể
với những thứ tại quê nhà.
Hầu hết không học ngôn ngữ
của dân bản địa.
Thay vào đó, người pháp thiết lập chế độ các vị vua bù nhìn
và xây dựng một mạng lưới
những quan lại, viên chức người Việt nói tiếng Pháp
sẵn sàng thực hiện ý muốn của họ.
The French put their subjects to work building roads and canals,
railroads and bridges.
Người Việt Nam không dễ dàng chấp nhận
ách thống trị của người Pháp,
giống như họ đã từng chống lại những cuộc xâm lược trước kia
của người Trung Quốc.
Đầu những năm thế kỷ 20, chủ nghĩa dân tộc bắt đầu trỗi dậy.
Nhưng những ai có ý kháng cự lại luật lệ chủ nghĩa thực dân sẽ bị lưu đày,
cầm tù, hoặc đưa lên máy chém.
Tôi căm thù họ sâu sắc.
Sâu sắc.
Tôi rất căm phẫn họ
Và tôi cũng sợ họ nữa.
Con trai, ta rất sợ họ.
Càng sợ thì tôi càng căm phẫn.
Tôi từng là một người lính 18 tuổi khi vết mực hãy còn chưa ráo
trên tấm bằng trung học của mình.
Tôi không muốn xấu hổ trước mặt bạn bè.
Nhưng tôi sợ
Có cảm giác như tôi níu giữ danh dự mình bằng những đầu móng tay
trong suốt thời gian ở đó.
Vào mùa xuân 1919,
khi phe Đồng Minh thắng lợi họp ở Paris,
để xây dựng lại một thế giới đã vỡ tan sau Thế Chiến I.
Tổng thống Woodrow Wilson dẫn đầu phái đoàn Mỹ
trú tại khách sạn Crillon.
Một ngày nọ, một người đàn ông 29 tuổi cao, mảnh khảnh
với lá đơn thỉnh cầu tổng thống
mà ông ấy và những người Việt theo chủ nghĩa yêu nước khác đã viết.
Dựa theo tuyên bố của tổng thống Wilson,
quyền lợi của dân thuộc địa
phải bình đẳng với những người cai trị ở châu Âu.
người đàn ông đó hỏi rằng liệu nguyên tắc này có được áp dụng ở quê nhà ông ấy.
Viên thư ký của tổng thống hứa sẽ trình báo lại cho Wilson
nhưng không có bằng chứng gì cho thấy ông ta đã thực sự làm điều đó.
Người đàn ông đó tên Nguyễn Tất Thành,
nhưng lúc bấy giờ ông sống dưới bí danh là Nguyễn Ái Quốc.
"Người họ Nguyễn Yêu Nước"
Trong suốt sự nghiệp dài & ẩn dật của mình,
ông ấy có khoảng 70 cái tên khác nhau
sau cùng, có một cái tỏa sáng nhất...
Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh là người
đã thành công trong việc tạo ra hình mẫu
một con người toàn tâm cống hiến vào sự nghiệp giải phóng
đất nước và dân tộc mình khỏi ách thống trị ngoại bang
với điểm nhấn là ông ấy đã hy sinh bản thân,
cuộc đời, không màng chuyện gia đình.
Đối với người Việt Nam, đó là sự hy sinh cao cả
bởi vì ai cũng cần có gia đình cả.
Hồ Chí Minh sinh năm 1890,
con của một viên chức nhỏ thời Pháp thuộc.
Sau khi tham gia cuộc biểu tình
chống lại hoàng đế bù nhìn
và những người Pháp đứng phía sau giật dây,
ông bị trục xuất khỏi trường và bị theo dõi sát sao.
Ông rời Việt Nam vào năm 1911 và sống lưu vong 30 nămliner.
Ông làm phụ bếp trên một con tàu Pháp,
đến New York và Boston,
nơi mà ông ấy làm thợ làm bánh tại quán Parker trong một thời gian.
Ông dọn tuyết ở Luân Đôn, làm thợ rửa hình ở Paris.
Tại đây, ông đã tham gia Đảng Xã Hội Pháp.
Nhưng khi đọc được những bài viết chống chủ nghĩa thực dân của Lenin,
ông đã trở thành một người cộng sản.
Ông được mời đến Matsx-cơ-va để học,
được đào tạo như là một thành viên Sô Viết
được biết đến như một người theo chủ nghĩa dân tộc
chủ nghĩa cộng sản
sau đó ông được cử đến Trung Quốc
để tập hợp những người Việt lưu vong
và giúp thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương.
"Vượt qua tất cả, giọng ông ấy nghiêm nghị và run run"
một người bạn hồi tưởng lại, " với duy nhất một ý nghĩ..."
về Tổ quốc mình, Việt Nam."
Vào năm 1940, nhiều nơi trên thế giới lâm vào chiến tranh,
Đức đã chiếm đóng gần trọn Tây Âu,
bao gồm cả Pháp.
Nhật lăm le đe dọa
nhiều thuộc địa các nước châu Âu tại châu Á,
và đã chiếm đóng Việt Nam, nơi mà Nhật cho phép liên minh của chúng
là Pháp
tiếp tục cai quản thuộc địa của mình.
Đối với một số người Việt, sự xuất hiện của Nhật
dường như là tiếng chuông báo hiệu sự chấm dứt ách thống trị của người da trắng.
Nhưng Hồ Chí Minh, lúc này vẫn lưu vong tại Trung Quốc
184s
nhận thấy rằng người Nhật cũng là kẻ xâm lược,
không có gì hơn Pháp.
Họ chỉ muốn khai thác đất nước ông
chiếm đoạt những vụ mùa của người Việt nhằm làm đầy bát cơm của họ.
"Thời khắc đã đến", ông nói
phải tập hợp những người yêu nước từ tất cả mọi tầng lớp, mọi độ tuổi,
nông dân, công nhân tiểu thương và quân đội
để đánh bại bọn Nhật và bè lũ Pháp xâm lược.
Vào tháng 2 năm 1941, sau 30 năm rời xa quê hương,
Hồ Chí Minh vượt qua biên giới từ Trung Quốc trở về Việt Nam
và thành lập cơ quan đầu não cách mạng gần bản Pác Bó
tại một hang đá vôi cạnh một ngọn núi
ông đặt tên là núi Karl Max
nhìn xuống là một con suối, ông đặt tên là Lenin.
Tại đây, ông đã sáng lập ra một tổ chức cách mạng
tên là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh
tức Việt Minh.
No comments yet. Be the first to leave one.